Thúc đẩy thực hành dân chủ, tiếp tục phát huy sức mạnh cao độ của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước
10:40 23/01/2024
Vai trò quan trọng của thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng
Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử dân tộc, phát huy sức mạnh của nhân dân luôn là yếu tố sống còn quyết định sự thịnh suy của mọi triều đại, nhà nước. Thực tiễn đã minh chứng, quy tụ được lòng dân, phát huy sức mạnh của nhân dân là nguyên nhân quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh của nhân dân chính là nguồn gốc, điểm tựa vững chắc cho sự phát triển trường tồn tại, tăng cường của đất nước. Sức mạnh của nhân dân sẽ được phát huy, nhân lên gấp bội nếu được kết nối thành một khối thống nhất, dưới lãnh đạo Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi người thắng lợi, là sức mạnh tạo ra mọi vật cải chất, tinh thần. Coi “dân là gốc” là phải tin ở dân, gần gũi với dân, kính trọng dân và biết dựa vào dân, nhận thức rõ: “có lực lượng dân chúng đánh nhiều, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì cũng không xong” (1) .
Có thể nhận thấy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh của nhân dân thể hiện tập trung ở việc làm trong mọi chủ tài khoản, đường lối, phải luôn chảy quan điểm: Dân là gốc . Vấn đề chốt, chìa khóa để thực hiện tốt tư tưởng này của Người chính là thực hành dân chủ , phát huy quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm “là chủ” và “làm chủ” của nhân dân trong xây dựng, phát triển đất nước.
Ngay khi nước nhà giành được độc lập, để thể chế hóa tư tưởng dân dân là gốc , Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tài khoản xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, làm dân và vì dân. Trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người đã để lại một di sản để về tổ chức, xây dựng nhà nước dân chủ mới ở nước ta. Tư tưởng của Người xây dựng nhà nước của dân, làm dân, vì dân là sự vận động sáng tạo học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; Đồng thời, hãy chọn lọc, kế thừa những tinh hoa tư tưởng về xây dựng nhà nước trong lịch sử dân tộc và nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, một nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải là một nhà nước pháp quyền “mạnh mạnh và sáng suốt”, nhà nước đó “phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt nhân với dân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân” (2) , theo tinh thần “nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người để trung thành của nhân dân” (3) . Nhà nước ta phải phát huy dân chủ, phải làm việc thực hành dân chủ được thể hiện và sâu sắc vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì “ thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết” mọi khó khăn” (4) . “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ/ Bao nhiêu ích đều vì dân ./ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân ... Chính quyền từ xã hội Chính phủ trung ương do dân cử ra ” (5) , “tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân” (6) .
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ . Nhân dân bầu ra các hội đồng nhân dân,ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương... Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ ” (7) . dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi; phụ nữ ngang quyền với nam giới về mọi phương diện; các dân tộc trong nước đều bình đẳng về quyền lợi.
Dân chủ cần phải luôn đi liền với cơ chế bảo đảm dân chủ, mà cơ chế này phải được luật hóa. Quan hệ giữa pháp luật và dân chủ trong nhà nước pháp quyền biểu hiện ở chỗ, để thực thi dân chủ cần có luật bảo đảm; pháp luật phải được xây dựng và thực thi trên cơ chế dân chủ, bình đẳng. Tiến trình chủ sở hữu xã hội cũng được xây dựng và hoàn thiện theo luật pháp nhà nước. Dân chủ càng cao thì luật càng chặt chẽ, khoa học. Pháp luật về thực thi dân chủ ở cơ sở là cụ thể hóa quan điểm, tài khoản chủ của Đảng về vấn đề này, quy định và có thể chế hóa các nội dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; quy định cách thức, phương pháp để người dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn việc thực hiện các quyền của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm dưới quyền lãnh đạo của Đảng; là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Dân chủ xã hội có thể tạo ra bản chất tốt ở chế độ vừa phải, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; làm như vậy, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm toàn bộ quyền con người, quyền công dân, như quyền tự do báo chí, hội nghị, đi lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền có nơi ở hợp pháp, học tập... Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền và nghĩa vụ công dân làm Hiến pháp và pháp luật định. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cốt lõi của dân chủ xã hội nghĩa là khẳng định quyền lực của nhân dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quyền và lợi ích, quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm của công dân.
Với quan niệm “dân chủ” có nghĩa là “dân là chủ” và “dân làm chủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặt nhân dân ở thế chủ thể xã hội mà còn chỉ rõ mối quan hệ mật thiết, không có thể tách rời vị trí đó với hành động làm chủ xã hội thực sự của nhân dân. Dân chủ và thực hành dân chủ không chỉ là mục tiêu và động lực của cách mạng, mà cùng với tập trung sẽ trở thành phương pháp, cách thức giải quyết mọi khó khăn, trở thành mạnh của sự nghiệp cách mạng. Người nhắc nhở, Đảng ta coi việc củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, đảm bảo lãnh đạo toàn diện của Đảng và chắc chắn của chế độ. Nhân dân là “mạch nguồn” dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng, một khi sức dân dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới lãnh đạo Đạo của Đảng sẽ trở thành thành viên sức mạnh vô địch.
Theo đó, để thực hiện dân chủ thì phải phát triển khai trên nhiều phương diện, với sự tham gia của nhiều chủ thể có vị trí, vai trò, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau nhằm bảo đảm thực hiện quyền của người dân , như quyền sử dụng lá phiếu để bầu ra những người đại diện vào các cơ quan, tổ chức bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyền tham gia vào các hoạt động của đời sống chính trị - xã hội, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến trúc của mình trong xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật; quyền tham gia vào các hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Muốn thực hiện các quyền đó, nhân dân phải hiểu biết đúng chiều, đầy đủ về các quyền tự làm, dân chủ của mình; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực thi, phát huy dân chủ, chủ động và tích cực thực thi, sử dụng các quyền dân chủ, rèn luyện phương pháp thực hành dân chủ và có bản lĩnh vực thực hành dân chủ, thực thi quyền làm chủ.
Một kết quả nổi bật về thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân qua gần 40 năm đổi mới
Qua các kỳ đại hội, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc và cụ thể hơn về dân chủ và thực hành dân chủ. Sau khi nước nhà thống nhất, tại Đại hội IV, Đảng ta khẳng định sẽ đưa ra sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ thể của nhân dân lao động. Các kỳ đại hội tiếp theo của Đảng đều mạnh mẽ quan điểm chỉ đạo về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.
Cương lĩnh vực xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Dân chủ xã hội nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền tảng dân chủ xã hội nghĩa là, đảm bảo dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, trên tất cả các lĩnh vực đều là nhiệm vụ quan trọng. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thiết lập bằng luật pháp, được pháp luật bảo vệ.
Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: Đảng và Nhà nước ban hành đường hoàng, tài khoản chủ, chính sách, luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; chủ đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng qua các thời kỳ đều nhất quán, khẳng định bản chất của chế độ xã hội ta “dân là chủ” và “nhân dân làm chủ”, trở thành một trong những đặc sản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân xây dựng. Thành phẩm cách mạng có được dưới lãnh đạo Đảng gần 94 năm qua chính là giúp Đảng ta đã biết kế hoạch lớn, phát huy sức mạnh của Quần chúng nhân dân trong cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc , trong quá trình xây dựng, điều chỉnh Đảng và giá trị chính của hệ thống. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ngày càng được hoàn thiện.
Điểm nổi bật, thành công của Đảng ta trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội nghĩa chính là nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về dân chủ để có chủ tài khoản, đường đường, chính sách, pháp luật phù hợp; là sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết về dân chủ với việc thực hành dân chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội. Thực hành dân chủ chính là hình thành cơ chế, chính sách, quy định, nguyên tắc và biện pháp hữu hiệu để bảo đảm cho mọi người dân thực hiện quyền dân chủ, hiện thực hóa phương châm mà Đảng đã xác định. Thực chất của việc thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy vai trò chủ thể của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân nhắm huy động mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; qua đó, vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, xã hội nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết kế, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững chắc sức mạnh.
Kết quả đạt được sau gần 40 năm đổi mới trên lĩnh vực thực hành dân chủ có những bước tiến rất quan trọng, có thể nói ở các điểm nổi bật sau:
1- Thực hành dân chủ trong Đảng có bước phát triển mới, đề cao trách nhiệm cung cấp, mô hình hợp tác của cán bộ, viên viên, ít nhất là người đứng đầu; phát huy dân chủ; tăng cường đoàn kết nhất trong Đảng; tôn trọng sự khác biệt trong quan điểm, ý kiến cá nhân trên tinh thần xây dựng Đảng.
2- Thực hành dân chủ trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tăng cường. Hoạt động của Quốc hội trong việc thực hiện quyền hiến hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao có nhiều thay đổi mới, chất lượng và hiệu quả được nâng cao. Hoạt động của Chính phủ được đổi mới theo hướng xây dựng Chính phủ kiến trúc, phát huy dân chủ trong thực thi hành chính công. Các cơ sở pháp lý tiếp tục được hoàn thiện, hệ thống pháp luật được hoàn thiện một bước cơ bản. Vai trò của luật pháp và thực thi pháp luật ngày càng được chú ý quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội, bảo vệ thượng tôn luật pháp, công khai, minh bạch và cam kết giải đấu.
3- Thực hành dân chủ trong hoạt động của Mặt trận quốc gia Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được chú ý, ngày càng thực chất hơn; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền lợi và ích hợp pháp, chính đáng của các đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính hệ thống.
Thực tiễn xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã khẳng định phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” là luôn kim chỉ nam cho mọi hành động Đảng, được mọi tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ và ngày càng phát huy hiệu quả trên thực tế. Thể chế thực thi các quyền làm chủ của nhân dân được xác lập, cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đã thực sự phát huy hiệu quả cao trong công việc phát hiện một số vi phạm của cơ quan nhà nước, cán bộ , member, góp phần nâng cao hiệu quả công việc kiểm tra, giám sát Đảng. Từ đó, niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước được củng cố, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng bền chắc.
Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết: Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; Gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy, chính quyền đã tăng cường xúc tiếp, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân (8) .
Dù vậy, bên cạnh kết quả quan trọng đã đạt được, vấn đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Một số cơ sở tổ chức, một bộ phận khu vực, các thành viên, công chức, chức năng chưa khuếch đại, chưa thực sự tôn trọng ý kiến kiến trúc, kiến nghị của nhân dân, chưa kịp giải quyết vấn đề, kiến nghị chính đáng, hợp lý của nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn bị vi phạm, việc thực hiện dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, chia tách dân chủ với kỷ cương, pháp luật. Chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Quốc gia Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chưa đồng đều...
Giải pháp để thúc đẩy thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong tình hình mới
Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, nếp thức: Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo. Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn; mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ; sự chống phá quyết định của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động... vẫn hiện hữu.
Tình hình trên được thấy, phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công ty xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới; trong đó, phát huy sức mạnh của nhân dân, thực hành dân chủ phải được coi là nhiệm vụ “hạt nhân”.
Sức mạnh của nhân dân chỉ được phát huy khi Đảng đánh giá đúng tiềm năng đến lớn của nhân dân, coi trọng dân, gần dân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân. Đảng muốn mạnh phải dựa vào dân; sức mạnh của lòng dân sẽ làm nên sức mạnh của Đảng; từ đó, hình thành các nhân tố vững chắc, đảm bảo cho sự vận hành, phát triển Đảng và cách mạng Việt Nam. Điều đó có nghĩa là sức mạnh nội sinh của Đảng phải xuất phát từ dân, vì dân, “đem tài dân, của dân, sức dân để làm lợi cho dân”.
Một trong 5 bài học đã được Đảng tổng kết tại Đại hội XIII là: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm dân gian là gốc ; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hiển thị thực hiện phương tiện châm ngôn “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là: Khơi dậy mạnh tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát phát triển đất nước bong vinh, hạnh phúc ; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân... tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa .
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Nhân dân đóng vai trò là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Phát huy tính tích cực, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh sửa Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng team pens, cán bộ, chức năng . Đồng thời, các điểm mới trong chỉ đạo của Đảng tập trung ở các vấn đề, nội dung sau:
Một là, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Hai là, được xác định rõ hơn vai trò của các chủ thể khi Đảng lãnh đạo đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm cốt cốt để dân làm chủ. Đảng và Nhà nước ban hành đường hoàng, chủ tài khoản, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn giáo quan trọng, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Ba là, khẳng định vai trò chủ thể, trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát trí tuệ, tính tích cực, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận quốc gia Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Bốn là, cấp ủy, tổ chức cộng đồng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, ủy viên phải nêu gương thực hành dân chủ, tặng thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội hội. Xử lý kịp thời, gây nguy hại đến quyền lợi của dân chủ, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, gây tổn hại đến quyền làm chủ của nhân dân.
Trên tinh thần đó, để thúc đẩy mạnh thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, với mục tiêu “Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy sức mạnh tinh thần yêu nước, ý chí tự cường cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống và xây dựng đất nước ta ngày càng mạnh mạnh, thơm vinh, văn minh, hạnh phúc để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (9) , cần tập trung thực hiện các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết của cán bộ, các cộng đồng và nhân dân về dân chủ. đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, thực hiện tài khoản chủ yếu của Đảng về phát huy dân chủ, quyền dân chủ của nhân dân, gắn phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, Mạnh mẽ. Đổi mới, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến tài khoản chủ yếu của Đảng về phát huy dân chủ phù hợp với tình hình mới hiện nay.
Thứ hai, làm tốt công việc thể chế hóa, cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong luật hệ thống. Thực hiện đúng, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Quyền làm chủ của nhân dân thể hiện trên tất cả các lĩnh vực quan trọng của đất nước, như tham gia xây dựng, chỉnh sửa Đảng và hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ, cán bộ, công chức; phát triển kinh tế; quản lý và tự động xã hội; xây dựng, quản lý, thụ động văn hóa; xây dựng nền quốc gia toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân”.
Tiếp tục có thể chế hóa, cụ có thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các loại hình theo Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, của Bộ Chính trị, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ”; Kết luận số 120-KL/TW, ngày 7-1-2016, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực hiện quản lý chế độ dân chủ ở cơ sở”; Luật Thực hiện chủ sở hữu cơ sở (năm 2022).
Tăng cường công khai, minh bạch, dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát, đánh giá, chiến lược lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, các thành viên thực sự xứng đáng là lãnh đạo đạo, người tin cậy tôi trung thành của nhân dân, “nói đi đôi với làm”, “tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”.
Thứ ba, Mặt trận Quốc gia Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của quân đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội, làm tốt vai trò cầu nối, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân qua cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ chức quốc gia Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm cốt cốt để nhân dân làm chủ, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong xây dựng, chỉnh sửa Đảng và hệ thống main value.
Thứ tư, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, minh quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù quân; đấu tranh, ức chế, thúc đẩy lùi suy nghĩ về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, làm nhân dân, vì nhân dân, gắn với tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân; quan tâm lắng nghe, giải quyết đáp ứng kịp thời, hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân; thực hiện chủ tài khoản, chính sách “hợp lòng dân”, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là ở những vùng đang còn gặp nhiều khó khăn. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham lam, tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ./.
---------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 , t. 5, tr. 335
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 375
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 382
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 15, tr. 325
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 6, tr. 232
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 12, tr. 375
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 8, tr. 263
(8) Các văn bản quan trọng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận quốc gia và các tổ chức chính trị - xã hội được cấm hành động với nhiều điểm mới về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Bộ Chính trị đã ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Quốc gia và các quân đoàn chính trị - xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các quân đoàn chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”...
(9) “Nghị quyết định số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ngày ta càng sùng vinh, hạnh phúc”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam , ngày 2-12-2023, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xiii/nghi-quyet-so-43-nqtw-ngay-24112023- hoi-nghi-lan-thu-tam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-tiep-tuc-phat-huy-truyen-4021
Nguồn: https://www.tapchicongsan.org.vn/