Bàn về một số định hướng triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới

10:51 14/02/2022

Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách. Hiện tại, trên toàn quốc có 63 Trung tâm TGPL của Nhà nước tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 40 tổ chức ký hợp đồng với Sở Tư pháp (31 tổ chức hành nghề luật sư, 09 tổ chức tư vấn pháp luật), 193 tổ chức đăng ký tham gia TGPL (160 tổ chức hành nghề luật sư, 33 tổ chức tư vấn pháp luật). Theo số liệu thống kê của các địa phương đến hết 31/12/2021, toàn quốc có 669 Trợ giúp viên pháp lý, 667 luật sư và 48 cộng tác viên TGPL ký hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm TGPL nhà nước (được Nhà nước trả tiền bồi dưỡng thực hiện vụ việc TGPL).

Có thể khẳng định rằng việc thành lập tổ chức TGPL là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. TGPL được xác định là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Những năm qua, công tác này luôn được Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với nhiều chủ trương, chính sách được ban hành và tổ chức thực hiện nhằm tăng cường công tác TGPL, nâng cao nhận thức pháp luật cho các nhóm đối tượng TGPL, trên các lĩnh vực, địa bàn đặc thù (miền núi, vùng sâu, vùng xa...), chú trọng đổi mới để đáp ứng yêu cầu TGPL của người dân.
I. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Luật Trợ giúp pháp lý 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý để hoạt động trợ giúp pháp lý phát triển. Quá trình triển khai Luật TGPL đã khẳng định chính sách về TGPL hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phù hợp với chính sách  giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, chính sách dân tộc. Ngoài ra, nội dung trợ giúp pháp lý được quy định tại văn bản của Nhà nước và Chính phủ như sau:

Ngày 08/12/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 02 Quyết định [1], trong đó đã xác định dịch vụ hỗ trợ thông tin, thực hiện trợ giúp pháp lý là dịch vụ sự nghiệp công lập thiết yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và quy hoạch Trung tâm TGPL nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ năm 2021 đến năm 2030 không bị giảm số lượng người làm việc 10% như các đơn vị sự nghiệp khác.

- Ngày 15/12/2021, năm ngành Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp đã ký Thông tư liên tịch số 05/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP về quy định phối hợp trong việc thực hiện tổ chức phiên tòa trực tuyến trong đó Điều 8 Trách nhiệm của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong việc tổ chức phiên tòa trực tuyến có nêu: Trường hợp vụ án hình sự, dân sự, hành chính có đương sự, bị hại là đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý và có yêu cầu trợ giúp pháp lý thì Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước phải bảo đảm điều kiện kỹ thuật, công nghệ, không gian tổ chức và có văn bản đề nghị Tòa án cho phép tổ chức điểm cầu thành phần do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước bố trí. Văn bản đề nghị Tòa án cho phép tổ chức điểm cầu thành phần do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước bố trí phải được gửi ngay cho Tòa án sau khi có đề nghị của đương sự, bị hại. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước phối hợp với Tòa án đặt điểm cầu thành phần tại điểm cầu do Trung tâm bố trí.
- Ngày 22/12/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 160/NQ-CP ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 23/ 6/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030, trong đó nội dung về TGPL đã được bổ sung tại Phụ lục kèm theo, theo đó giao Bộ Tư pháp chủ trì nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện, thực hiện hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.
- Ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, trong đó có nội dung TGPL quy định tại nội dung 3 Tiểu dự án 1 Dự án 10 về tăng cường, nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
- Ngày 18/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, trong đó tiểu dự án 2 – Dự án 6 có nêu nội dung cụ thể như sau: “Xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình thông tin và truyền thông định hướng cho người dân tham gia, thụ hưởng Chương trình; tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về việc làm, giáo dục nghề nghiệp, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin, trợ giúp pháp lý, trợ giúp xã hội và bình đẳng giới”.

Ngày 08/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP  về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh  tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, trong đó điểm a khoản 2 trang 5 có nêu: "...công tác TGPL chú trọng phối hợp trong hoạt động tố tụng, quan tâm, bảo đảm hạ tầng kỹ thuât để chuyển đổi số và tham gia hiệu quả phiên tòa trực tuyến".

II. ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH
Thứ nhất, tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ TGPL của người dân.
Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, đặc biệt là chất lượng tranh tụng.
Thứ ba, gắn kết chặt chẽ hơn nữa công tác TGPL với các chính sách giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Nhà nước để sử dụng có hiệu quả nguồn lực giúp người dân thụ hưởng tối đa các ưu đãi dành cho họ.
Thứ tư, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực tham gia TGPL.
Thứ năm, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện TGPL.
III. ĐỀ XUẤT CÁC NHIỆM VỤ CỤ THỂ TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Nâng cao nhận thức của người dân về trợ giúp pháp lý và tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý cho người dân

Cơ sở đề xuất: Thể chế pháp lý đã ghi nhận quyền được trợ giúp pháp lý của người dân, trình tự thủ tục trợ giúp pháp lý đã được quy định minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân yêu cầu trợ giúp pháp lý. Điều này đã được thể hiện trong Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 về quyền của người được TGPL: “Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan” và Điều 42 về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan quy định như sau: “Trong quá trình xử lý, giải quyết vụ việc liên quan đến công dân, nếu công dân thuộc diện người được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý”. Tuy nhiên, để người dân được thụ hưởng đầy đủ quyền này, giúp người dân biết quyền của mình, tạo ra các kênh kết nối thuận lợi giữa người dân và trợ giúp pháp lý là cần thiết. Bảo đảm tiếp cận trợ giúp pháp lý cho người dân và góp phần thực hiện các nguyên tắc, mục tiêu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế...
  Hoạt động cụ thể:
- Truyền thông về TGPL giữ một vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin về TGPL đến với người dân, là một yếu tố quan trọng giúp người dân tiếp cận và trực tiếp thụ hưởng quyền của mình được pháp luật quy định. Trong thời gian tới, Cục Trợ giúp pháp lý dự kiến thực hiện các phương thức truyền thông điểm về trợ giúp pháp lý thông qua nhiều phương thức khác nhau: truyền thông trực tiếp cho người dân tại cơ sở; thông qua đội ngũ cán bộ gần dân, người có uy tín trong cộng đồng có thể nhân rộng hoạt động ra; thông qua sản phẩm công nghệ, kỹ thuật phim, clip và video. Để nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông, cần thực hiện một số công việc như sau:
+ Đa dạng hóa và đổi mới/sáng tạo các phương thức truyền thông về TGPL (qua báo, đài phát thanh, truyền hình, internet; vẽ tranh/diễn kịch giới thiệu về TGPL;...) phù hợp với từng đặc thù địa bàn, trình độ dân trí của người dân, đặc biệt là phù hợp với nhóm người dân tộc thiểu số, chẳng hạn xây dựng video, kịch bản liên quan đến câu chuyện pháp luật; đối với các dân tộc có chữ viết thì biên soạn tài liệu bằng tiếng dân tộc, có sự phối hợp giữa tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý với các cơ quan thông tin, đại chúng;
+ Tập huấn, tăng cường hiểu biết về TGPL cho những người có điều kiện tiếp xúc hàng ngày với người dân như cán bộ xã, phường, giáo viên trên địa bàn, công an xã, trưởng thôn, cán bộ hòa giải, cán bộ Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, già làng, trưởng bản… để kịp thời giải thích cho người dân về quyền được TGPL, hướng dẫn người được TGPL cần phải gửi đơn hoặc liên hệ với ai, cần phải làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích của mình;
+ Thiết lập và duy trì đường dây nóng về TGPL để người dân có thể gọi tới bất cứ khi nào nếu có tranh chấp, vướng mắc pháp luật và các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là cơ quan điều tra, có thể thông tin sớm nhất cho tổ chức thực hiện TGPL ngay khi thụ lý vụ việc tố tụng;
+ Tiếp tục cung cấp đầy đủ Bảng tin, hộp tin TGPL đặt tại trụ sở các cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, nhà tạm giữ; dịch tờ gấp pháp luật, các luật liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người dân sang tiếng dân tộc thiểu số (đối với những nơi người dân tộc thiểu số có chữ viết và biết đọc); xây dựng các bảng thông tin về TGPL đặt tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà sinh hoạt thôn.

Xây dựng các phương án về thu hút nguồn lực thực hiện của xã hội cho công  tác TGPL trong đó có việc tạo điều kiện cho các tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý và luật sư có thể tham gia bằng nguồn lực của mình hoặc tiếp cận phù hợp được các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cho hoạt động TGPL trong giai đoạn hiện nay và hỗ trợ nghiên cứu về việc đổi mới công tác trợ giúp pháp lý ở giai đoạn sau năm 2025 (Trong năm 2021, số vụ việc Trung tâm TGPL nhà nước trả bồi dưỡng cho Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL là: 3.460 vụ việc, chiếm 15,69% số vụ việc kết thúc; vụ việc tham gia tố tụng do Luật sư ký Hợp đồng thực hiện TGPL là: 2.342 vụ việc, chiếm 13,80% số vụ việc kết thúc).

Xây dựng phương thức của các cơ chế phối hợp tạo thuận lợi cho Trung tâm TGPL tiếp cận sớm với nhu cầu TGPL của người dân.

2. Nâng cao chất lượng hiệu quả dịch vụ trợ giúp pháp lý
Cơ sở đề xuất: Chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong trợ giúp pháp lý. Trong những năm gần đây, đã có một số giải pháp được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu này. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định tiêu chuẩn của người thực hiện trợ giúp pháp lý và các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, đây là công việc phải thực hiện thường xuyên, hơn nữa số lượng người thực hiện trợ giúp pháp lý được bổ sung mới hàng năm, nhiều văn bản mới được ban hành, các kỹ năng trợ giúp pháp lý yêu cầu phải được cập nhật thường xuyên. Nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý cần thực hiện trên nhiều mặt hoạt động của công tác trợ giúp pháp lý như nâng cao năng lực của người thực hiện trợ giúp pháp lý, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, điều phối của cơ quan quản lý, đặc biệt là nâng cao chất lượng, hiệu quả các vụ việc trợ giúp pháp lý....
Việc quan tâm đến chất lượng hiệu quả dịch vụ trợ giúp pháp lý sẽ giúp người dân được thụ hưởng dịch vụ có chất lượng và hiệu quả, khẳng định tính đúng đắn cũng như ý nghĩa của chính sách này.
Hoạt động cụ thể:
- Tập huấn kỹ năng phối hợp thông tin điểm về trợ giúp pháp lý tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tập huấn về kiến thức trợ giúp pháp lý điểm cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;
- Tập huấn kỹ năng làm việc, tổ chức Hội nghị, khảo sát, kiểm tra trực tuyến giữa trung ương và các địa phương trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý;
- Tập huấn kỹ năng trợ giúp pháp lý trực tuyến cho các đối tượng yếu thế (người khuyết tật, người nghèo, nạn nhân bị bạo lực, nạn nhân bị mua bán người);
- Tổ chức một số đợt truyền thông trực tiếp điểm, chuyên đề trợ giúp pháp lý điểm để hướng dẫn người nghèo, người dân tộc thiểu số tại vùng người nghèo và vùng đồng bảo dân tộc thiểu số và miền núi hiểu biết về trợ giúp pháp lý và cách thức để thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý;
- Xây dựng vụ TGPL tranh tụng mẫu, những vụ việc thành công, hiệu quả.
3. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện trợ giúp pháp lý tại Trung ương và địa phương
Cơ sở đề xuất: Ngày 27/09/2019, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” được ban hành nhằm nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả hơn nữa các cơ hội do cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội. Một trong những chủ trương của Nghị quyết là “Xây dựng cơ sở dữ liệu số của Chính phủ và các cấp chính quyền, tạo điều kiện để mọi công dân có thể cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của bộ máy nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thu thập, quản lý dữ liệu và giao dịch trên nền tảng Internet ở các cơ quan nhà nước”.
Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 09/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025 đặt mục tiêu “Hoàn thiện nền tảng Chính phủ điện tử nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; phát triển Chính phủ điện tử dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng; nâng xếp hạng Chính phủ điện tử theo đánh giá của Liên hợp quốc tăng từ 10 đến 15 bậc năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng Chính phủ điện tử theo đánh giá của Liên hợp quốc đến năm 2025”. Trợ giúp pháp lý không nằm ngoài xu hướng chung của xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin trong trợ giúp pháp lý giúp việc quản lý, điều hành thông suốt, hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, nguồn nhân lực, tài chính và bảo đảm thông tin, số liệu kịp thời, chính xác, việc thực hiện trợ giúp pháp lý được bài bản tra cứu tiền hồ sơ, lưu trữ hồ sơ khoa học, bảo mật...

Điểm a khoản 2 trang 5 Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2022 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh  tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 nêu: "công tác TGPL chú trọng phối hợp trong hoạt động tố tụng, quan tâm, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật để chuyển đổi số và tham gia hiệu quả phiên tòa trực tuyến".

Hoạt động cụ thể:
- Nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp liên thông các loại giấy tờ có liên quan của người dân, khi yêu cầu trợ giúp pháp lý người dân không cần xuất trình các giấy tờ chứng minh đối tượng thuộc diện được TGPL;
- Triển khai phương thức thực hiện trợ giúp pháp lý trực tuyến, qua điện thoại đặc thù cho những đối tượng đặc thù, những vụ việc có tính nhạy cảm;
- Xây dựng phương thức khai thác phân tích vụ việc: xây dựng phần mềm có chức năng như một trợ lý ảo, hỗ trợ người thực hiện trợ giúp pháp lý tham khảo các hồ sơ vụ việc mẫu, tham khảo phân tích các phương án giải quyết vụ việc TGPL.
- Hỗ trợ xây dựng phương thức thống kê mới, trích xuất số liệu với nhiều tiêu chí khác nhau (số liệu vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức trợ giúp pháp lý như tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng; người được trợ giúp pháp lý theo 14 nhóm diện người được trợ giúp pháp lý như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân mua bán người và vụ việc yếu tố giới…; phân tích cụ thể chi tiết đến hàng chục lĩnh vực pháp luật được TGPL khác nhau như lĩnh vực hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai và lao động việc làm…
4. Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Cơ sở đề xuất: Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam (các Bộ luật, luật về tố tụng) đã có nhiều quy định mới về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý: Trách nhiệm cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam trong việc thông báo, giải thích, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý; yêu cầu hoặc đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý (người thực hiện trợ giúp pháp lý) bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan có liên quan đến hoạt động TGPL trong tố tụng (Điều 41 quy định về trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng). Ngoài ra, giữa các Trung tâm trợ giúp pháp lý cũng có sự phối hợp với nhau trong việc xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý và chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý (Điều 34 và Điều 35 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017). Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đã cụ thể trách nhiệm của các bên trong phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý nhằm cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, bảo đảm chất lượng cho người được trợ giúp pháp lý, trong đó khoản 9 Điều 8 của Thông tư quy định: “Khuyến khích Cơ quan điều tra, Tòa án các cấp tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại các cơ quan này phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để người được trợ giúp pháp lý biết và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời”.
Hoạt động cụ thể:

- Nghiên cứu thực hiện cơ chế người thực hiện TGPL trực ở trụ sở hoặc trực qua điện thoại tại một số cơ quan tiến hành tố tụng (công an, tòa án) giúp có cơ chế để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được tiếp cận sớm với TGPL, đặc biệt là ở những địa phương có tỷ lệ người thuộc diện TGPL cao, điều kiện cơ sở vật chất của các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm, có nguồn nhân lực TGPL từ đó góp phần bảo đảm đáp ứng được nhu cầu TGPL của người dân một cách nhanh chóng và kịp thời nhất. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ các quy định về trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi thụ lý vụ việc phải thực hiện hướng dẫn và thông báo về các cá nhân thuộc diện TGPL đến các Trung tâm, Chi nhánh TGPL tại địa phương.

- Thực hiện các nghiên cứu áp dụng các hình thức tố tụng trực tuyến cho Trợ giúp viên pháp lý, luật sư, người dân (đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương) ở các vùng khác nhau tại Việt Nam để có các chính sách hỗ trợ thích hợp.

- Nghiên cứu các vấn đề về phương pháp, kỹ năng thực hiện bằng phương thức trực tuyến đối với tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, xét xử.

5. Bảo đảm hiệu quả thực hiện trợ giúp pháp lý cho người bị yếu thế trong xã hội
Cơ sở đề xuất:
Về trẻ em:
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ trẻ em nói chung, phòng chống xâm, hại trẻ em nói riêng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Công tác trợ giúp pháp lý cho trẻ em cũng được đẩy mạnh và mang lại những kết quả đáng khích lệ, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ em, đặc biệt là đối với trẻ em bị xâm hại. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý đối với tất cả trẻ em, mà không chỉ là “trẻ em không nơi nương tựa” như quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 thì tất cả trẻ em (không phân biệt giới tính, dân tộc, có khó khăn tài chính hay không, có nơi nương tựa hay không...) đều thuộc diện được trợ giúp pháp lý (miễn phí) dưới các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng trong tất cả các vụ việc như dân sự, hình sự, hành chính.
Ngày 26/5/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tăng cường các giải pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em, trong đó có quy định Bộ Tư pháp chủ động thực hiện trợ giúp pháp lý đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị xâm hại, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời hiệu quả. Nghị quyết số 121/2020/QH14 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em giao nhiệm vụ cho Chính phủ chỉ đạo Bộ Tư pháp “chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hướng dẫn, chỉ đạo đẩy mạnh công tác trợ giúp pháp lý trong quá trình giải quyết các vụ việc xâm hại trẻ em”.
Về người khuyết tật:
Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm tới người khuyết tật, đã ban hành nhiều chính sách chăm lo đời sống người khuyết tật. Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp 2013 khẳng định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” và “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề.”
Năm 2014, Việt Nam gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật.  Ngày 21/6/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1100/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật.
Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý 2017 thì "Người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn về tài chính" thuộc diện người được trợ giúp pháp lý (Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý).
Ngày 05/8/2020 Thủ tướng phê duyệt chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, trong đó có quy định rõ các nhiệm vụ trợ giúp pháp lý: “Tăng cường thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý tại xã, phường, thị trấn nơi nhiều người khuyết tật có khó khăn về tài chính có nhu cầu trợ giúp pháp lý, tại Hội người khuyết tật, các cơ sở bảo trợ xã hội, trường học, cơ sở kinh doanh và các tổ chức khác của người khuyết tật khi có yêu cầu và phù hợp với điều kiện của địa phương”; “Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, tăng cường năng lực cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý khi thực hiện việc trợ giúp pháp lý đối với người khuyết tật có khó khăn về tài chính”; “Truyền thông về trợ giúp pháp lý đối với người khuyết tật có khó khăn về tài chính thông qua các hoạt động thích hợp”.
Về nạn nhân bị mua bán người
Công tác phòng chống mua bán người luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng, đưa ra rất nhiều biện pháp để phòng chống nạn mua bán người. Ngay từ năm 2012, Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư Palermo về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Năm 2015, Việt Nam ký Công ước ASEAN về Phòng chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em… Các điều ước quốc tế này là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nội luật hóa pháp luật quốc gia và hợp tác quốc tế trong việc phòng chống nạn mua bán người tại Việt Nam và qua biên giới.  
Luật Phòng, chống mua bán người đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012, trong đó giao Bộ Tư pháp: “Hướng dẫn các trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị mua bán theo quy định của pháp luật”.
Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý 2006 không có quy định nạn nhân bị mua bán được trợ giúp pháp lý. Tuy vậy, Bộ Tư pháp xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/2/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, trong đó bổ sung đối tượng “Nạn nhân theo quy định của pháp luật phòng, chống mua bán người” thuộc diện được trợ giúp pháp lý để phù hợp với quy định của Luật Phòng, chống mua bán người (năm 2012) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 11/2014/TT-BTP ngày 17/4/2014 quy định về bảo đảm bình đẳng giới trong trợ giúp pháp lý. Theo đó, khi người được trợ giúp pháp lý là người mẹ, trẻ em gái, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục có yêu cầu được trợ giúp pháp lý thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý tiến hành các hoạt động nghiệp vụ để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho những đối tượng “dễ bị tổn thương” này. Năm 2017, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (thay thế Luật Trợ giúp pháp lý 2006), trong đó quy định nạn nhân của hành vi mua bán người có khó khăn về tài chính được trợ giúp pháp lý.
Về người cao tuổi
Ngày 21/12/2021, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021 – 2030. Một trong những nội dung của Chương trình là trợ giúp pháp lý cho người cao tuổi. Mục tiêu trợ giúp pháp lý của Chương trình trong giai đoạn 2022 – 2025 là ít nhất 80% người cao tuổi có khó khăn về tài chính, bị bạo lực, bạo hành được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu; tiến tới giai đoạn 2026 – 2030, mục tiêu là ít nhất 90% người cao tuổi có khó khăn về tài chính, bị bạo lực, bạo hành được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu.
        Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý 2017 thì "Người cao tuổi có khó khăn về tài chính" thuộc diện được TGPL (Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý). Theo quy định của Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý thì điều kiện khó khăn về tài chính của người được trợ giúp pháp lý là người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật.
Nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới
* Tuyên ngôn thế giới về quyền con người:
- Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền, cần đối xử với nhau trên tình nhân loại;
- Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do được ghi trong bản Tuyên ngôn, không có bất cứ phân biệt nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay chính kiến, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc thân thế, và không ai có thể bị tra tấn hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo…
* Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị:
- Mỗi con người đều có quyền thừa hưởng cuộc sống và không ai được tự ý tước đoạt cuộc sống của họ; nam giới và phụ nữ có quyền bình đẳng, không bị kỳ thị phân biệt đối xử;
- Nạn nhân của sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử đều phải được hỗ trợ.
* Công ước quốc tế về quyền trẻ em
- Đề cập toàn diện các quyền cơ bản mà trẻ em trên thế giới phải được bảo đảm như: quyền được sống, được phát triển, quyền được chăm sóc và bảo vệ; quyền được tham gia trong cuộc sống gia đình, văn hóa, xã hội.
- Trẻ em không bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện.
* Công ước của Liên hợp quốc về chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) - Quy định sự bình đẳng giữa nam và nữ về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa.
- Khuyến nghị chung số 19 của Ủy ban CEDAW: bạo lực trên cơ sở giới, bao gồm cả BLGĐ, là “hình thức phân biệt đối xử khiến hạn chế nghiêm trọng khả năng thụ hưởng các quyền và tự do của người phụ nữ một cách bình đẳng với nam giới”
* Tuyên bố của Liên hợp quốc về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ
- Phụ nữ được quyền thụ hưởng bình đẳng và được bảo vệ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền sống, bình đẳng, tự do, an toàn cá nhân, quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật và quyền không bị tra tấn hay đối xử, trừng phạt một cách độc ác, vô nhân đạo hoặc hèn hạ.
- Các quốc gia có nghĩa vụ lên án bạo lực đối với phụ nữ và không được viện dẫn bất kỳ tập quán, truyền thống hay lý do tôn giáo nào nhằm từ chối trách nhiệm xóa bỏ bạo lực.
- Các quốc gia phải thực hiện trách nhiệm đầy đủ để phòng ngừa, điều tra và trừng trị các hành vi bạo lực đối với phụ nữ theo pháp luật quốc gia, dù các hành vi đó là do Nhà nước hay cá nhân thực hiện.
- Các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập những biện pháp phòng ngừa để tăng cường bảo vệ phụ nữ trước mọi hình thức bạo lực và đảm bảo rằng phụ nữ không bị tổn thương thêm do sự thiếu nhạy cảm giới của hệ thống luật pháp, các hoạt động hành pháp và các can thiệp khác.
- Các quốc gia phải có biện pháp đảm bảo rằng phụ nữ bị bạo lực và con cái (nếu có) nhận được sự trợ giúp đặc biệt, như phục hồi sức khoẻ, trợ giúp chăm sóc con cái, điều trị, tư vấn, các dịch vụ y tế và xã hội, các cơ sở và chương trình trợ giúp.
- Các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập những biện pháp phòng ngừa để tăng cường bảo vệ phụ nữ trước mọi hình thức bạo lực và đảm bảo rằng phụ nữ không bị tổn thương thêm do sự thiếu nhạy cảm giới của hệ thống luật pháp, các hoạt động hành pháp và các can thiệp khác.
- Các quốc gia phải có biện pháp đảm bảo rằng phụ nữ bị bạo lực và con cái (nếu có) nhận được sự trợ giúp đặc biệt, như phục hồi sức khoẻ, trợ giúp chăm sóc con cái, điều trị, tư vấn, các dịch vụ y tế và xã hội, các cơ sở và chương trình trợ giúp.
- Các quốc gia phải thực hiện các biện pháp đảm bảo rằng những cán bộ hành pháp và công chức chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách phòng ngừa, điều tra và xử lý bạo lực đối với phụ nữ phải được tập huấn để nhạy cảm hơn về các nhu cầu của phụ nữ.
Hoạt động cụ thể:
- Nghiên cứu và xây dựng các phương án TGPL cho người yếu thế thuộc diện được TGPL, đặc biệt là trẻ em gái, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục, bao gồm cả phương án nâng cao nhận thức cho người dân nói chung và các đối tượng nêu trên để hiểu biết và sử dụng dịch vụ TGPL thông qua các phương thức truyền thông có hiệu quả trực tiếp hoặc qua sử dụng công nghệ truyền thông phù hợp với đặc điểm của người được TGPL ở từng vùng miền.
- Xây dựng chương trình và phương pháp TGPL cho trẻ em, đặc biệt với trẻ em bị xâm hại, nạn nhân bạo lực giới, nạn nhân bạo lực gia đình, người khuyết tật, người cao tuổi… Các hoạt động hỗ trợ này có thể gắn với các hoạt động TGPL trong xu hướng phát triển mô hình tố tụng thân thiện của Tòa Gia đình và người chưa thành niên của Việt Nam./.

---------------------
[1] Quyết định số 2069/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ  ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành Tư pháp và Quyết định số 2070/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Nguồn: https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1897&l=Nghiencuutraodoi
Thong ke

Tiến sĩ Nguyễn Trung Thành

Phạm Trọng Đạt

Tiến sĩ Bùi Hải Thiêm

Tỉ giá hối đoái